Thứ Tư, 4 tháng 5, 2016

Dù rằng lạc nội mạc tử cung buồng trứng

mặc dầu điều trị nội khoa nhằm mục đích giảm đau thường được chỉ định trước khi giải phẫu nhưng tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán LNMTC là nhìn thấy trực tiếp thương tổn qua phẫu thuật nội soi hay mổ mở. Các tổn thương lạc nội mạc ở lứa tuổi này thường lạc nội mạc tử cung kiêng ăn gì có đặc điểm không điển hình (tổn thương “đỏ” hay “trắng”).

Các tác giả cho rằng có thể quan sát gần như tất các tổn thương lạc nội mạc với các thế hệ máy nội soi ngày nay. Phân tuổi LNMTC theo tiêu chuẩn phân loại của Hiệp hội sinh sản Hoa Kỳ. phần lớn các trường hợp được giải phẫu nội soi chẩn đoán có tuổi I (77-92%) hoặc thời đoạn II (8-23%) (Unger CA và cs, 2011).

    Mục tiêu điều trị LNMTC tuổi vị thành niên bao gồm kiểm soát triệu chứng, ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh và bảo tồn khả năng sinh sản. Hiệp hội Sản Phụ khoa Hoa Kỳ khuyến cáo cách thức điều trị “từng bước” đối với LNMTC tuổi vị thành niên. Theo đó, phối hợp liệu pháp nội tiết và thuốc kháng viêm non-steroid là biện pháp được chọn lựa trước tiên. Nếu thất bại, nên nội soi chẩn đoán và điều trị. Hầu hết các tác giả đều khuyến cáo nên điều trị hormone sau phẫu thuật ở lứa tuổi này nhằm mục đích điều trị triệu chứng và ngăn ngừa sự tiến triển của bệnh (Yeung P và cs, 2009).

II.    CHẨN ĐOÁN
    Chẩn đoán biểu hiện của bệnh lạc nội mạc tử cung dựa vào hỏi tiền sử, khám thực thể và xét nghiệm cận lâm sàng trong trường hợp cấp thiết.

1. Hỏi bệnh
    Hỏi bệnh có vai trò quan trọng trong việc hướng tới chẩn đoán LNMTC ở tuổi vị thành niên.
Một số nhân tố nguy cơ của LNMTC ở lứa tuổi vị thành niên (Chapron C và cs, 2011)

  • Tiền sử gia đình bị LNMTC
  • Thống kinh nguyên phát chừng độ nặng
  • Nghỉ học do đau lúc hành kinh
  • Thống kinh không đáp ứng với thuốc kháng viêm non-steroid
  • dùng thuốc ngừa thai uống để điều trị thống kinh
2. Triệu chứng
    Triệu chứng LNMTC ở lứa tuổi này thường khác với phụ nữ trưởng thành. Ở nữ giới trưởng thành, nghi ngờ LNMTC khi có đau vùng chậu mạn tính, thống kinh, giao hợp đau, khối u vùng chậu hay vô cơ. Triệu chứng thường gặp nhất ở tuổi vị thành niên là thống kinh, chiếm 64-94%. Đau vùng chậu ở phụ nữ trưởng thành thường có tính chu kỳ. Trong khi đó, ở tuổi vị thành niên, đau vùng chậu thường bao gồm cả không có chu kỳ và có chu kỳ (62,6%). Tỉ lệ đau vùng chậu không có chu kỳ và có chu kỳ đơn thuần lần lượt là 28,1% và 9,4%. Ở các trường hợp đau vùng chậu kinh niên không đáp ứng với thuốc kháng viêm non-steroid, khoảng 90% bị LNMTC với kiểu đau không có chu kỳ. Một sự dị biệt đáng chú ý là lý do đi khám của các bệnh nhân ở lứa tuổi này là đau vùng chậu chứ không phải là vấn đề hiếm muộn như ở nữ giới trưởng thành. Một số triệu chứng khác cũng thường gặp là các triệu chứng về đường tiêu hoá (2-46%), đường tiết niệu (12,5%), thất thường kinh nguyệt (9,4%), ra khí hư (6,3%) và giao hợp đau (14-25%) (Nezhat FR và cs, 2009).

3. Khám khám lạc nội mạc tử cung ở đâu thực thể

    Đối với các trường hợp chưa có quan hệ dục tình, việc khám âm đạo là điều không khả thi. do vậy, thường không phát hiện được các dấu hiệu đặc hiệu ở Hầu hết các bệnh nhân khi khám vùng chậu. Tuy nhiên, bước thăm khám này có vai trò quan trọng trong việc phát hiện các nguyên nhân khác của đau vùng chậu như khối u buồng trứng hay bất thường đường sinh dục. Có thể khám trực tràng ở các trường hợp chưa có quan hệ tình dục và dấu hiệu thường gặp là túi cùng sau căng đau (78%), có nốt (36%).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét